Writing 101, Day 2 — a place

A place belongs forever to whoever claims it hardest, remembers it most obsessively, wrenches it from itself, shapes it, renders it, loves it so radically that he remakes it in his own image.

– Joan Didion

In the immensity of childhood memories that I treasure, a place that I have been longing to revisit is Bataan, The Philippines. For six months of my life, I was a refugee, being displaced from the homeland, but not yet reached the promise land that was known as America.

That place — the refugee camp — was a space in between, like a bridge that symbolically connected identities. Although I did not come to such realization then, but that six months of refugee experience was the beginning of my Vietnamese-American experience. It was an anchor, giving me a ground, but letting me rise up to the surface at times when I needed to make choices, and choices that were as basic as what to keep and cherish, and what I want to borrow from new culture.

The beauty of having a refugee experience could only be seen introspectively, when we reflect through time at how far life has taken turns from those early days. We touch the depth of despair and sadness, and soon enough, we want to go back to that significant place again because there were also happiness that kept such memory a beautiful one to cherish.

It’s been 25 years, but I want to relive being 13 again. But 25 years is such a long stretch of time to recall the finesse details that woven into the daily life spent as a refugee. What are left after 25 years, and after many other subsequent events that took over most of my braincells (e.g. memory loss after two pregnancies, and staying at home with two boys!!!) only existed in my memories. They are intricately rendered from blurred and faded details, incomplete in wholeness but remain as a collection of vignettes that survived the vicissitude of life; my new life in America.

That place is now no longer existed; the camp was closed around 1995, five years after my family arrived in America. From what I gather, thanks to Google, the camp became dilapidated, then looted by the locals, and later was transformed into an industrial park, cloaking with a new face and identity. The landscape of my 13-year-old girlhood is gone forever; remnants of refugee life have disappeared.

Trong trí nhớ của tôi ngân nga đâu đó về những mãnh trời đẹp của tuổi mười hai bước qua mười ba. Lâu lâu nhìn lại mình, và nhìn lại quãng thời gian 25 năm đi qua, tôi vẫn muốn trở về nơi đó. Và tôi tham lam; tôi muốn trở về nơi đó ở cái tuổi mười hai bước qua mười ba, rồi trở về thêm một lần nữa ở cái tuổi gần 40 hiện tại.

Tôi không có đủ vốn tiếng Việt đễ dịch ra hết nghĩa cái câu trên do cô Joan Didion viết, nhưng cái khái niệm về quyền sở hữu của một chốn nào đó trong đời người, thì nhiều khi làm người ta có chút điên cuồn, vặn xoắn kỷ niệm và đóng cái chốn đó thành một khuôn cho riêng mình, để vì đó mà mình có quyền sở hữu nó, vì nó là của riêng trong trí nhớ.

Và cái nơi chốn tôi muốn dành quyền sở hữu cho riêng mình là sáu tháng dài ở trại tị nạn Bataan, Phi Luật Tân.

Có người sẽ đặc ra câu hỏi vì sao không phải Vũng Tàu, hay Bến Đình, hay xóm Bình Sơn nơi tôi được sanh ra và lớn lên, mà lại chọn cái chốn tạm bợ đời tị nạn để giật quyền sở hữu. Tôi cũng không có câu trả lời suông, nhưng tôi biết trong thâm tâm, trại tị nạn Bataan là một nơi có dấu ấn cho sự hình thành trí nhớ mà tôi nắm giữ của tuổi thơ, và biến tôi thành nô lệ cho sự hoài cảm. A servant for nostalgia.

Ở đó, tôi khám phá ra ý nghĩa của sự tha hương, của nhớ nhung người thân còn ở lại, của mong chờ những huyền ảo về cuộc sống phía trước, và những câu nói lạ miệng với Hello Good-Bye.

Và tất nhiên còn thêm nhiều điều nữa, như là…

Cái đêm nhạc hội Mẹ cho tôi đi chung với Phương và chị Dương, hai người bạn thân nhất lúc ở trại. Hôm đó chắc người ta tổ chức ăn mừng Trung Thu, hay Giáng Sinh, Tết Tây, hay Tết Nguyên Đán. Tôi không nhớ rõ ngày tháng, vì đã cách 25 năm, ngày với tháng nó cứ lẫn lộn với nhau.

Tôi, Phương, và chị Dương lội bộ từ Vùng Sáu lên chợ Vùng Năm, hai vùng nối liền nên đi khoảng 10 phút là tới. Tôi nhớ cái anh chàng ca sĩ lúc đó tuổi cở anh Hai, mặt cái áo ca rô màu xanh da trời, vãi bị sờn nên màu xanh cũng phai bạt.

Đi cùng cái áo anh mặt quần đen, nhưng tôi không nhớ anh đi giầy hay mang dép. Trời hôm đó cũng nong nóng, không có mưa. Anh đứng trên sân khấu hát bài, Nhớ khi xưa gặp nhau chung một đường kẻ trước người sau. Nàng làm như vô tình, gái đoan trang dễ đâu làm quen… Có lẽ bài hát này tôi nhớ lâu vì có tên của mình trong đó, và anh chàng ca sĩ nhìn cũng điển trai. Lúc đó, tôi cảm thấy mình có chút rung động, và sau này đi đâu thấy anh đi ngang thì lén nhìn.

Tôi nhớ cái vách đá ngiêng từ trên khu vệ sinh và bồn nước tập thể của khu nhà chị Dương. Khu bên đó có số cao (nhà tôi vào khu 606, nhà chị Dương hình như 618 thì phải), nên tôi không dùng thường, trừ khi qua thăm chị Dương. Bồn nước khoá mở có giờ giấc, nhưng vì nó nằm trên cao, có vách đá và nước chảy theo rãnh nên bên dưới có đám rau muống mọc xanh rờn. Cái vách đá trơn trợt vậy mà tôi cũng mò xuống cho tới nơi nước tồn đọng để hái cả rổ đọt rau muống đem về cho Mẹ nấu cơm canh.

Có vài lần trợt té bọc gân chân lê lết về nhà Mẹ thoa dầu xanh bớp cho đở sưng. Tôi nhớ chuyện này vì lúc học cuối khoá trường tổ chức tiệc trao giải thưởng mà tôi không mang được đôi giầy có gót. Gia đình nào đó cùng lô xuất trại nên đem cho nhà tôi mới đồ trong đó có đôi giầy màu hình như màu kem, một ông anh của tôi phải chặt bỏ cái gót giầy để tôi có thể súng sính cái đẹp mà không phải cà nhắc đau đớn. Hình như ở nhà Mẹ còn có một tấm hình tôi mặt đầm trắng và mang đôi giầy này lên sân khấu nhận quà. Hôm nào về nhà Mẹ tôi sẽ lục lại xem coi trí nhớ của mình có đúng không.

Tôi nhớ những bụi hoa cosmo màu vàng trứng gà và màu cam ngọt bay phây phẩy nếu có gió đi ngang đằng sau nhà. Đó là sự bắt đầu của những bụi hoa cosmo dần dần đi vào cuộc sống, như lúc tôi mới quen O, lúc hai đứa du ngoại ở Maine, ngắm nhìn cánh hoa cosmo trong khu vườn của ai đó trong lối mòn ra biển. Tôi thấy cái cảm giác quen quen, gần gũi, lúc đó vì đang bị bùa yêu chạm tim hay sao mà tôi không nhớ đến những cánh cosmos của tuổi 13, để sau này mới nhìn nhận tình yêu của tôi dành cho cosmos bắt đầu từ cái vườn đất sau khu nhà 606.

Rồi tôi nhớ đến khu vườn rau sống trồng húng lũi húng cay rau diếp cá và nhiều loại rau nữa của một ông tuổi trung niên cở Ba tôi. Ông ở khu nhà 607, và cả hai khu nhà chia nhau khoảng đất đằng sau, ông trồng rau xanh ngát, cứ nghĩ đến món gì cần rau là dân tình trong khu lân cận đều tới nhà ông mua. Tôi còn nhớ những bữa trưa trông thằng Út ngủ, tôi ngó ra nhà sau thấy ông mặc quần tà lỏn vãi cũ sền, lai xoăn lên, lưng trần khòm khòm, miệng ngậm điếu thuốc rồi tay cầm xẻn bới đất hay lấy gàu tưới rau. Da ông đen ngâm như màu đất sét trộn bùn.

Gia đình tôi đến ở khu 606 chưa bao lâu thì dường như gia đình ông bán rau được xuất trại. Không biết được nước nào bảo lãnh, nhưng căn nhà ông ở trống trơn, gió thổi thoáng từ đằng trước ra đằng sau không gì ngăn chặn. Vườn rau của ông được hàng xóm trông nom sau khi ông đi. Cũng có vài lần tôi lén qua đó hái trộm vài cọng rau húng quế, vò vò trên tay rồi ngữi cho thơm.

Tự dưng hôm nay ngồi nghĩ lại trọng lắng đọng như thế này, tôi nhớ thêm nhiều thứ nữa.

Và giờ đây, khi nói về chốn đó, tôi muốn sỡ hữu những màu sắc tuổi thơ của mình. Tuy càng về già, trí nhớ của cái thời xa xôi ấy càng phai mờ, để chi tiết lẫn lộn đến nỗi tôi bực mình tự trách rằng tại sao ngày đó lại không có blog để viết như bây giờ.

Phải chi hồi đó có máy vi tính, có nối mạng internet, có máy chụp hình digital, và có blog như bây giờ, thì chắc gì tôi phải làm nô lệ cho sự hoài cảm đến xốn xan như vầy.

Advertisements

6 thoughts on “Writing 101, Day 2 — a place

  1. Thì ra em cũng là boat people. Có nhiều kỷ niệm thời làm dân tị nạn quá ha. Bây giờ chị chuẩn bị đi làm, bữa khác trở lại đọc tiếp. Viết mấy cái này đọc hay lắm em.

    1. Em không phải là boat people chị ơi vì nhà em đi diện con lai. Nhưng hành trình ra đi cũng gian truân lắm.

    2. Em chỉ là viết cho em thôi vì em không nghĩ sẽ có người đọc. Viết suông vậy nên văn từ không hoa Mỹ. Mà viết ra rồi em cảm thấy vulnerable quá đỗi.

  2. Kể tiếp về những ngày tháng ở trại tị nạn đi nàng. Kể nghe xem, trường hợp gia đình nàng và các gia đình đi theo kiểu vượt biên, vượt biển khi đến trại có phân biệt đối xử hay đều giống nhau hết?

    Đọc những gì nàng kể mà làm ta tưởng tượng ra hình ảnh con bé con 12-13 tuổi, tóc ngắn bay bay, mò đi hái rau muống kìa 😉 🙂

    1. tui cũng muốn làm một series mà sợ viết ra rồi cảm thấy mình vulnerable quá.

      Mà hồi đó nhỏ nên không cảm nhận được là đi vượt biển, hay biên, hay hàng không thì có bị phân biệt hay không. Chắc tại tuổi mới lớn nên thấy vui lắm.

Comments are closed.